Virus HPV là gì? Nguyên nhân, triệu chứng và cách phòng tránh

29/07/2025 Theo dỗi Nutrihome trên google news Tác giả: Trung tâm Dinh dưỡng Nutrihome

Hơn 90% nam giới, 80% nữ giới đã hoạt động tình dục và khoảng 50% dân số thế giới sẽ bị nhiễm HPV ít nhất một lần trong suốt cuộc đời. HPV còn là nguyên nhân gây ra 4,5% trong tổng số các loại ung thư ở phụ nữ và nam giới trên toàn thế giới. Trước mức độ phổ biến và nguy hiểm do HPV gây ra, việc hiểu đúng về loại virus này đóng vai trò quan trọng. Vậy virus HPV là gì? Nguyên nhân lây nhiễm, triệu chứng đặc trưng và cách phòng ngừa như thế nào? Cùng tìm hiểu chi tiết ngay sau đây!

Bài viết tham khảo bởi BS Lê Thị Gấm – Quản lý Y khoa vùng 6 miền Bắc, Hệ thống Trung tâm tiêm chủng VNVC.

Virus HPV

Virus HPV là gì?

Virus HPV (tên đầy đủ là Human Papillomavirus – virus gây u nhú ở người) là các loại virus DNA sợi đôi, nhỏ, có đường kính 52 – 55 nm, không có vỏ bọc, hướng biểu mô, có chung một cấu trúc di truyền, khác biệt với polyomavirus, là một loại virus gây u nhú ở người, phổ biến và lây truyền chủ yếu qua đường tình dục.

Các chủng HPV

Hiện nay, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra hơn 200 loại virus HPV khác nhau. Trong đó, khoảng 40 chủng lây truyền qua đường tình dục ở người. Virus HPV được chia thành hai nhóm: HPV nguy cơ thấp và HPV nguy cơ cao.

  • HPV nguy cơ cao có thể gây ra một số loại ung thư: Có 12 loại HPV nguy cơ cao (16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58 và 59). Trong đó, HPV 16 và HPV 18 là nguyên nhân đứng đầu gây ra hầu hết các loại ung thư liên quan đến HPV;
  • HPV nguy cơ thấp hiếm khi gây ung thư, nhưng thường gây ra các loại mụn cóc ở xung quanh bộ phận sinh dục, hậu môn, miệng hoặc cổ họng. Trong trường hợp mụn cóc hình thành ở thanh quản hoặc đường hô hấp, có thể dẫn đến tình trạng gọi là u nhú đường hô hấp, gây ra các vấn đề hô hấp nghiêm trọng. Các loại HPV nguy cơ thấp phổ biến gồm 6, 11, 42, 43, 44, 54, 61, 70, 72 và 81.

Tất cả các loại HPV có thể sống trong một số tế bào nhất định gọi là tế bào biểu mô vảy. Đây là những tế bào bình thường được tìm thấy trên bề mặt da bà trên bề mặt niêm mạc, phân loại như sau:

  • HPV ở da: Xuất hiện ra mụn cóc ở các vùng như tay, chân, cánh tay và chân. Đây là những loại mụn cóc thông thường chỉ xuất hiện trên da, không giống với mụn cóc sinh dục;
  • HPV niêm mạc: Niêm mạc là lớp bề mặt ẩm lót các cơ quan và bộ phận cơ thể mở bên ngoài, chẳng hạn như âm đạo, hậu môn, cổ tử cung và âm hộ (khu vực xung quanh bên ngoài âm đạo), bao quy đầu bên trong và niệu đạo của dương vật, mũi – miệng – họng bên trong, khí quản (ống dẫn khí), phế quản (ống thở nhỏ hơn phân nhánh ra khỏi khí quản), mí mắt trong…
Các chủng HPV

HPV có hơn 200 tuýp, trong đó có HPV 6, 11, 16 và 18 gây bệnh phổ biến.

Nguyên nhân và cơ chế lây nhiễm của HPV

HPV là virus u nhú ở người, rất dễ lây nhiễm, nguy cơ gây ra các mụn cóc sinh dục hoặc thay đổi tế bào dẫn đến ung thư. Vậy đường lây truyền và cơ chế lây nhiễm của HPV như thế nào?

1. Con đường lây truyền

Có nhiều con đường lây truyền HPV qua các vị trí niêm mạc khác nhau, bao gồm tự nhiễm và lây truyền giữa các cá nhân.

Quá trình tự nhiễm HPV có thể xảy ra thông qua tiếp xúc trung gian với tay hoặc thông qua việc phát tán virus ở vùng hậu môn sinh dục. Đặc biệt, HPV rất bền với nhiệt và khô ở môi trường bên ngoài, nên khả năng lây truyền không qua đường tình dục cũng có thể xảy ra, chẳng hạn như tiếp xúc lâu dài với quần áo bị nhiễm trùng.

Viêc lây truyền giữa các cá nhân bao gồm lây truyền quanh sinh, lây truyền qua đường tình dục (miệng, hậu môn và gián tiếp qua tiếp xúc bằng tay), cụ thể như sau:

  • Lây truyền qua sinh (lây truyền mẹ con trong lúc mang thai, lúc sinh): Virus HPV có thể lây từ mẹ sang con qua nhau thai, máu dây rốn, khi sinh, cho con bú hoặc tiếp xúc da kề da. Tỷ lệ phát hiện virus HPV ở nhau thai là 14% và ở trẻ sơ sinh là 11,2%. HPV miệng dao động từ 10–30% ở trẻ sơ sinh có mẹ dương tính. Lây truyền theo chiều dọc có thể gây u nhú đường hô hấp tái phát, khiến trẻ trở thành ổ chứa HPV nguy cơ cao tiềm ẩn, dẫn đến nhiễm trùng dai dẳng và nguy cơ ung thư trong tương lai.
  • Lây truyền qua quan hệ tình dục: Theo các chuyên gia y tế, lây nhiễm HPV chủ yếu qua tiếp xúc da kề da. Các nghiên cứu dịch tễ học chỉ ra rõ nguy cơ nhiễm HPV sinh dục và ung thư cổ tử cung chịu ảnh hưởng chủ yếu qua các tiếp xúc trong quá trình hoạt động tình dục bằng miệng, hậu môn hoặc tiếp xúc gián tiếp bằng tay.

Theo thống kê ở nhóm phụ nữ trong độ tuổi từ 18 – 69, cho thấy nhiễm HPV qua âm đạo xuất hiện ở 45,2%, nhiễm HPV qua đường miệng ở 4,1%, nhiễm kép ở 3% và nhiễm trùng đồng thời ở 1,1%. Đối với việc quan hệ tình dục đồng tính, nguy cơ nhiễm trùng HPV qua đường miệng là 19,3% nếu bạn tình bị nhiễm trùng sinh dục.

Virus gây u nhú ở người (HPV) là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến các bệnh lý nguy hiểm như ung thư cổ tử cung, mụn cóc sinh dục và ung thư vòm họng. Tuy nhiên, nhiều người vẫn còn chủ quan vì chưa hiểu rõ HPV lây qua đường nào để có biện pháp phòng ngừa chủ động trong sinh hoạt hàng ngày. Việc nắm vững các con đường phát tán của virus là bước đầu tiên và quan trọng nhất để bảo vệ sức khỏe bản thân và bạn đời.

2. Các yếu tố nguy cơ gây nhiễm HPV

Một cá nhân có nguy cơ bị nhiễm HPV cao hơn nếu người đó đã từng có nhiều bạn tình tại bất kỳ thời điểm nào hoặc trở thành bạn tình của người đã từng quan hệ nhiều lần. Ngoài ra, hoạt động tình dục khi tuổi còn quá nhỏ cũng khiến nguy cơ lây bệnh tăng cao, cũng như các tiền sử mắc bệnh đường tình dục khác như mụn cóc sinh dục, xét nghiệm Pap bất thường hoặc ung thư cổ tử cung/ dương vật ở cá nhân hoặc bạn tình.

Ngoài hoạt động tình dục, tuổi tác cũng là một trong những yếu tố quyết định nguy cơ nhiễm HPV. Hầu hết các bệnh ung thư cổ tử cung phát sinh tại điểm nối vảy – cột giữa biểu mô trụ của cổ tử cung trong và biểu mô vảy của cổ tử cung ngoài. Tại vị trí này, liên tục xảy ra những thay đổi chuyển sản. Các hoạt động chuyển sản lớn nhất xảy ra ở tuổi dậy thì và lần mang thai đầu tiên, sau đó giảm dần khi mãn kinh. Do đó, nhiễm HPV phổ biến nhất ở phụ nữ trẻ hoạt động tình dục, từ 18 đến 30 tuổi và giảm mạnh sau 30 tuổi.

Đối với tình huống ung thư cổ tử cung thường được phát hiện phổ biến ở phụ nữ trên 35 tuổi là sự phản ánh tình trạng nhiễm HPV ở độ tuổi trẻ và tiến triển chậm thành ung thư. Tình trạng nhiễm trùng dai dẳng phổ biến hơn ở các loại HPV gây ung thư có nguy cơ cao và là yếu tố quyết định quan trọng trong quá trình phát triển ung thư cổ tử cung.

Các chuyên gia cho rằng, một người có nguy cơ nhiễm HPV và tiến triển nặng cũng phụ thuộc nhiều vào yếu tố miễn dịch của cơ thể. Phản ứng miễn dịch chính đối với HPV là qua trung gian tế bào, vậy nên các tình trạng làm suy yếu khả năng miễn dịch qua trung gian tế bào như ghép thận hoặc bệnh do virus sẽ làm tăng nguy cơ mắc phải và tiến triển của HPV.

Ngoài ra, nguy cơ nhiễm HPV dường như cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác như hút thuốc lá, số lần sinh con, sử dụng thuốc tránh thai… Sự ức chế miễn dịch tại chỗ do hút thuốc lá và hoạt động gây đột biến của các thành phần thuốc lá đã được chứng minh trong các tế bào cổ tử cung và có thể góp phần vào sự tồn tại của HPV hoặc chuyển đổi ác tính tương tự như đã thấy ở phổi.

Dấu hiệu bị nhiễm HPV

Dấu hiệu bị nhiễm HPV thường không rõ ràng, phần lớn người nhiễm không có triệu chứng cụ thể. Tuy nhiên, một số biểu hiện có thể bao gồm:

1. Mụn cóc sinh dục (mụn cóc hoa lơ)

  • Xuất hiện ở âm hộ, âm đạo, cổ tử cung (nữ), dương vật, bìu, hậu môn (nam).
  • Dạng nốt mềm, màu hồng nhạt, mọc đơn lẻ hoặc thành chùm, không đau.

2. Mụn cóc ở các vị trí khác

Có thể xuất hiện ở tay, chân, miệng, họng (ít gặp, thường do chủng HPV khác gây ra).

3. Tổn thương tiền ung thư hoặc ung thư

  • HPV nguy cơ cao có thể gây biến đổi tế bào tại cổ tử cung, âm đạo, hậu môn, dương vật, hầu họng.
  • Thường không có triệu chứng đến khi tiến triển nặng, như:
    • Ra máu âm đạo bất thường (nữ).
    • Đau khi quan hệ, tiết dịch âm đạo có mùi.
    • Nuốt nghẹn, khàn giọng kéo dài (ung thư hầu họng).
    • U cục ở vùng cổ, họng, bẹn.

Biến chứng tiềm ẩn liên quan đến HPV

Hầu hết các trường hợp nhiễm HPV không dẫn đến ung thư hay các biến chứng nguy hiểm. Tuy nhiên, có một số trường hợp nhiễm HPV nguy cơ cao dẫn đến biến đổi tế bào, phụ thuộc vào thông tin chứa trong DNA của tế bào – DNA là hóa chất trong tế bào tạo nên gen của con người, kiểm soát cách thức hoạt động của tế bào.

Virus HPV là tác nhân chính gây mụn cóc sinh dục và nhiều bệnh ung thư nguy hiểm như ung thư cổ tử cung, hậu môn, vòm họng, dương vật, âm hộ và âm đạo. Cụ thể, virus HPV liên quan đến 90% ca ung thư hậu môn, 78% ung thư âm đạo, 60% ung thư vòm họng, 50% ung thư dương vật và 25% ung thư âm hộ. Loại virus này có tính ổn định cao, ít đột biến và đã tồn tại lâu đời, là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư cổ tử cung ở phụ nữ.

  • Ung thư hậu môn: Hơn 90% trường hợp do HPV gây ra. Là dạng ung thư biểu mô ống hậu môn, có hai loại bao gồm ung thư biểu mô tế bào vảy và ung thư biểu mô tuyến, biểu hiện triệu chứng phổ biến như ngứa dai dẳng ở hậu môn, chảy máu trực tràng (đặc biệt là khi đi tiêu), mọc cục u hoặc khối u ở lỗ hậu môn, đau nhức, phân bị rò rỉ,…
  • Ung thư cổ tử cung: Là sự phát triển của tế bào bắt đầu ở cổ tử cung – phần dưới của tử cung nối với âm đạo. HPV đóng vai trò gây ra hầu hết các bệnh ung thư cổ tử cung, biểu hiện các triệu chứng đặc trưng như chảy máu âm đạo khi quan hệ, kinh nguyệt nhiều và kéo dài, khí hư âm đạo loãng, đau vùng chậu, đau khi quan hệ…
  • Ung thư hầu họng: Là ung thư hình thành ở phần giữa cổ họng, tương đối hiếm gặp. Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, khoảng 53.000 người mắc ung thư vòm họng tại Hoa Kỳ mỗi năm. Các triệu chứng của ung thư vòm họng bao gồm đau họng, đau hoặc khó nuốt, khó mở miệng hoàn toàn, khó cử động lưỡi, giảm cân không rõ nguyên nhân, đau tai không khỏi, ho ra máu…
  • Ung thư dương vật: Là dạng ung thư hiếm gặp thường hình thành trên hoặc dưới bao quy đầu, gây ra các cục u hoặc loét không đau, phẳng trông có màu nâu xanh, phát ban, sưng và kích ứng ở đầu dương vật (viêm quy đầu). Được biết, một nửa ca ung thư dương vật là do HPV gây ra;
  • Ung thư âm đạo: Là dạng ung thư hiếm gặp, phổ biến nhất ở phụ nữ 75 tuổi trở lên, hầu hết là do nhiễm trùng HPV gây ra. Ung thư âm đạo thường phát triển rất chậm và mức độ nghiêm trọng phụ thuộc vào kích thước khối u và tình trạng di căn của bệnh;
  • Ung thư âm hộ: Đây là dạng ung thư gây ngứa dai dẳng ở âm hộ, đau nhức hoặc nổi các mảng da màu đỏ, trắng, sẫm màu và các khối u phát triển trên âm hộ, đi tiểu bị rát. Nhiễm trùng dai dẳng với một số chủng HPV là nguyên nhân hàng đầu gây ra ung thư âm hộ ở phụ nữ.
Biến chứng tiềm ẩn liên quan đến HPV

Nhiễm trùng HPV tiềm ẩn gây ra bệnh mụn cóc sinh dục, loạn sản, tiền ung thư và ung thư nguy hiểm.

Chẩn đoán và xét nghiệm HPV

Các phương pháp phục vụ cho quá trình chẩn đoán nhiễm HPV được chỉ định gồm các

1. Khám lâm sàng

Trong một số trường hợp biểu hiện triệu chứng đặc trưng, các bác sĩ có thể chẩn đoán nhiễm HPV dựa trên các dấu hiệu nổi bật, chẳng hạn như xuất hiện hiện tượng u nhú trên niêm mạc sinh dục (mụn cóc, mụn thịt có màu hồng nhạt hoặc trắng sữa), cơ quan sinh dục có cảm giác ngứa ngáy khó chịu, tiết nhiều dịch có mùi hôi, vùng kín bị lở loét chảy máu, nữ giới có hiện tượng khí hư màu nâu, có lẫn máu…

Tuy nhiên, có dạng thức khám lâm sàng không đủ nhạy để phát hiện nhiễm HPV sinh dục tiềm ẩn hoặc dưới lâm sàng. Để biết xác định chính xác việc nhiễm HPV cũng như mức độ nghiêm trọng, cần phải thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu để cho ra kết quả đúng và ra kết hoạch điều trị kịp thời.

2. Xét nghiệm Pap smear

Xét nghiệm Pap smear (tầm soát ung thư cổ tử cung) là một trong những phương pháp được nhiều phụ nữ lựa chọn. Đây là dạng xét nghiệm HPV sàng lọc ung thư ở phần dưới, hẹp của tử cung (nằm phía trên âm đạo), được gọi là cổ tử cung. Các chuyên gia sẽ lấy mẫu dịch âm đạo bằng dụng cụ mỏ vịt và chải mềm

Cần lưu ý, xét nghiệm này chỉ ở mức tầm soát, không thể phát hiện ung thư mà thay vào đó, sẽ cho ra kết bất thường ở cổ tử cung. Vì vậy, xét nghiệm cho ra kết quả dương tính không có nghĩa sẽ bị ung thư cổ tử cung. Mà là cơ sở để các chuyên gia đề nghị thực hiện xét nghiệm HPV và sàng lọc thường xuyên hoặc lâu hơn bình thường.

Những thay đổi tế bào ở cổ tử cung dẫn đến ung thư phải mất nhiều năm mới phát hiện được. Vì vậy, trong trường hợp có kết quả dương tính với HPV, người bệnh cần phải thực hiện sàng lọc theo định kỳ để can thiệp kịp thời, thay vì điều trị những thay đổi ở cổ tử cung do nhiễm.

Theo như Hiệp hội Sản Phụ khoa Hoa Kỳ, phụ nữ trong độ tuổi trên 21 – 29, nên lặp lại xét nghiệm Pap smear mỗi 3 năm/ lần. Đối với phụ nữ từ 30 tuổi trở lên, thời gian thực hiện xét nghiệm sẽ tùy thuộc vào kết quả xét nghiệm trước đó.

3. Xét nghiệm Thinprep

Xét nghiệm ThinPrep Pap là phương pháp xét nghiệm tế bào học dạng lỏng đầu tiên trong sàng lọc ung thư cổ tử cung. Trong hơn hai thập kỷ, xét nghiệm ThinPrep Pap đã góp phần làm giảm đáng kể tỷ lệ ung thư cổ tử cung:

  • Hơn 80% xét nghiệm Pap tại Hoa Kỳ được thực hiện bằng ThinPrep, với hơn 1 tỷ xét nghiệm được thực hiện trên toàn cầu cho đến nay;
  • 90% các bệnh viện phụ khoa tốt nhất tại Hoa Kỳ tin tưởng vào xét nghiệm Pap ThinPrep

4. Xét nghiệm DNA của HPV

Xét nghiệm DNA của HPV là một trong những phương pháp hữu hiệu và tiên tiến trong việc tầm soát và góp phần chẩn đoán sớm ung thư cổ tử cung ở phụ nữ. Xét nghiệm HPV DNA được thực hiện từ việc lấy nhẹ nhàng mẫu từ cổ tử cung, sau đó tiến hành xét nghiệm để kiểm tra DNA của virus HPV.

Trước khi thực hiện bài xét nghiệm, các chuyên gia khuyến cáo không nên làm những điều sau trong vòng 24 giờ, bao gồm quan hệ tình dục, thụt rửa bộ phận sinh dục, sử dụng băng vệ sinh…

Phòng ngừa nhiễm virus HPV

Những biện pháp phòng ngừa nhiễm virus HPV hiệu quả nhất được các chuyên gia khuyến nghị như sau:

1. Tiêm vắc xin phòng HPV

Vắc xin phòng HPV ước tính có thể ngăn ngừa tới 90% các bệnh ung thư do HPV và mụn cóc sinh dục. Ủy ban Cố vấn về Thực hành Tiêm chủng của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) đã theo dõi và nghiên cứu chặt chẽ chứng minh vắc xin HPV là an toàn, với hơn 135 triệu liều vắc xin HPV đã được triển khai tiêm chủng kể từ khi cấp phép.

Danh sách vắc xin phòng HPV cho nam và nữ giới

Tên vắc xin Gardasil Gardasil 9
Phòng bệnh Phòng ngừa 4 chủng HPV gây ung thư cổ tử cung, âm hộ, âm đạo, các tổn thương tiền ung thư và loạn sản, mụn cóc sinh dục, các bệnh lý do nhiễm virus HPV Phòng ngừa 9 chủng HPV gây ung thư cổ tử cung, âm hộ, âm đạo, các tổn thương tiền ung thư và loạn sản, mụn cóc sinh dục, các bệnh lý do nhiễm virus HPV
Đối tượng Chỉ định dành cho trẻ em gái và phụ nữ trong độ tuổi từ 9 – 26 tuổi. Chỉ định cho nam và nữ giới từ 9 – 45 tuổi.
Lịch tiêm Lịch tiêm gồm 3 mũi:
– Mũi 1: Lần tiêm đầu tiên
– Mũi 2: 2 tháng sau mũi 1
– Mũi 3: 4 tháng sau mũi 2
Người từ tròn 9 tuổi đến dưới 15 tuổi, phác đồ tiêm gồm 2 mũi:
– Mũi 1: lần tiêm đầu tiên trong độ tuổi- Mũi 2: cách mũi 1 từ 6 – 12 tháng.Nếu mũi 2 tiêm cách mũi 1 < 5 tháng, cần tiêm mũi 3 cách mũi 2 ít nhất 3 tháng.Phác đồ 3 mũi (0-2-6):
– Mũi 1: lần tiêm đầu tiên trong độ tuổi- Mũi 2: cách mũi 1 ít nhất 2 tháng- Mũi 3: cách mũi 2 ít nhất 4 thángNgười từ tròn 15 tuổi đến 45 tuổi, phác đồ tiêm gồm 3 mũi:
– Mũi 1: lần tiêm đầu tiên trong độ tuổi- Mũi 2: cách mũi 1 ít nhất 2 tháng

– Mũi 3: cách mũi 2 ít nhất 4 tháng.

Để tham khảo chi tiết về vắc xin phòng HPV tại Hệ thống trung tâm tiêm chủng VNVC, Khách hàng có thể liên hệ trực tiếp với VNVC thông qua hotline 028.7102.6595 hoặc inbox qua fanpage facebook VNVC – Trung tâm Tiêm chủng Trẻ em & Người lớn hoặc đến ngay các trung tâm tiêm chủng VNVC trên toàn quốc để được nhân viên chăm sóc Khách hàng hướng dẫn chi tiết, được bác sĩ thăm khám sàng lọc, tư vấn sức khỏe và chỉ định tiêm ngừa phù hợp.

2. Quan hệ tình dục an toàn để tránh HPV

Ngoài tiêm vắc xin phòng HPV, việc thực hiện quan hệ tình dục an toàn bao gồm sử dụng bao cao su, không quan hệ bừa bãi với nhiều người… là một trong những cách hiệu quả để giảm nguy cơ nhiễm virus HPV cũng như các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác. Nghiên cứu đã chỉ ra, nữ giới có bạn tình sử dụng bao cao su trong suốt quá trình quan hệ tình dục có khả năng mắc bệnh nhiễm trùng sinh dục mới thấp hơn 70% so với những phụ nữ có bạn tình sử dụng bao cao su ít hơn 5% thời gian.

Tuy nhiên, việc sử dụng bao cao su có thể không bảo vệ hoàn toàn cho cá nhân khỏi việc tiếp xúc với HPV. Vì virus này có thể lây truyền qua tiếp xúc với các mô ở môi, bìu hoặc hậu môn bị nhiễm bệnh không được bao cao su bảo vệ.

3. Vệ sinh cá nhân và thay đổi lối sống

Vệ sinh cá nhân và thay đổi lối sinh hoạt là một trong những yếu tố góp phần giảm nguy cơ lây nhiễm HPV hiệu quả. Đặc biệt là sau mỗi lần quan hệ tình dục, cần phải vệ sinh sạch sẽ vùng kín để giảm nguy cơ vi khuẩn, virus xâm nhập vào cơ thể và gây bệnh. Cần lưu ý không sử dụng các sản phẩm gây kích ứng vùng kín và nên thay đổi đồ lót theo định kỳ. Tuyệt đối không để vùng kín bị ẩm ướt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các tác nhân có hại gây bệnh.

Các nghiên cứu chỉ ra, hút thuốc cũng dẫn đến suy giảm miễn dịch, làm tăng nguy cơ mắc ung thư do HPV gây ra, thống kê cho thấy nguy cơ nhiễm HPV gây ung thư cổ tử cung cao gấp 2 lần ở phụ nữ hút thuốc. Ngoài ra, béo phì cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng, dẫn đến tình trạng kháng insulin và làm viêm mãn tính, tăng nguy cơ lây nhiễm HPV, nên cần kiểm soát cân nặng hiệu quả.

Chế độ ăn uống bổ dưỡng có chứa trái cây, rau, chất chống oxy hóa, uống nhiều nước và các chất dinh dưỡng khác có tác dụng “thần kỳ” đối với chức năng miễn dịch, có thể ngăn ngừa nhiễm trùng HPV xâm nhập vào cơ thể hiệu quả.

4. Sàng lọc định kỳ

Vì các tổn thương tiền ung thư do HPV gây ra phải mất nhiều năm, khoảng 15 – 20 năm mới chuyển thành ung thư nên việc thực hiện sàng lọc định kỳ đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện sớm, can thiệp, kiểm soát và điều trị thành công bệnh.

Tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh (BVĐK TA) cung cấp dịch vụ khám sàng lọc và tầm soát ung thư cổ tử cung chuyên nghiệp, uy tín, đầu tư trang thiết bị tiên tiến, hiện đại đạt chuẩn quốc tế, cùng đội ngũ bác sĩ, chuyên gia giàu kinh nghiệm, chuyên môn cao.

Phòng ngừa nhiễm virus HPV

Thực hiện các biện pháp khám sàng lọc định kỳ để hạn chế nguy cơ biến chứng nguy hiểm do HPV.

Điều trị các triệu chứng và bệnh lý liên quan đến HPV

1. Điều trị triệu chứng

Một số yếu tố như kích thước, giai đoạn và các đặc điểm mô học của khối u, sự liên quan của hạch bạch huyết, các yếu tố nguy cơ biến chứng do phẫu thuật hoặc xạ trị và thói quen sinh hoạt của bệnh nhân, sẽ quyết định quá trình điều trị và thời gian có thể hồi phục. Nhìn chung, các tổn thương biểu mô không xâm lấn chỉ được phát hiện dưới kính hiển vi được điều trị bằng các thủ thuật cắt bỏ nông như liệu pháp lạnh hoặc liệu pháp laser:

  • Liệu pháp lạnh: Mô bất thường sẽ được đông lạnh bằng đầu dò siêu lạnh. Mỗi lần đông lạnh thường không đủ để gây hoại tử, do đó khu vực này cần rã đông và đông lạnh lại.
  • Liệu pháp laser: Việc cắt bỏ mô bằng chùm tia laser carbon dioxide có hiệu quả như liệu pháp lạnh nhưng mô sẽ lành nhanh hơn và ít biến dạng hơn. Tuy nhiên, thủ thuật này sẽ tốn kém nhiều chi phí hơn.

2. Điều trị ung thư liên quan đến HPV

Khi một bệnh nhân được chẩn đoán ung thư liên quan đến HPV, các bác sĩ sẽ xem xét giai đoạn và mức độ nghiêm trọng của bệnh để đưa ra phương án và phác đồ điều trị phù hợp. Thông thường, để điều trị ung thư liên quan đến HPV, các bác sĩ sẽ chỉ định những cách như sau:

  • Phẫu thuật: Sinh thiết, cắt bỏ trực tiếp tế bào gây ung thư;
  • Hóa trị: Phương pháp điều trị ung thư sử dụng thuốc để ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư, bằng cách loại bỏ hoặc phân chia chúng;
  • Xạ trị: Phương pháp sử dụng tia X năng lượng cao hoặc bức xạ khác để tiêu diệt tế bào gây ung thư…

Virus HPV là một trong những tác nhân hàng đầu gây bệnh ở đường sinh dục cho nam và nữ giới, khả năng lây nhiễm khá cao và hầu hết mọi người đều nhiễm HPV ít nhất một lần trong đời. Phần lớn các trường hợp nhiễm bệnh đều không biểu hiện triệu chứng và cơ thể đào thải virus sau một khoảng thời gian. Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp virus HPV ủ bệnh, gây biến đổi tế bào dẫn đến ung thư, ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe, thậm chí tử vong.

Đánh giá bài viết
09:18 08/01/2026
Nguồn tham khảo
  1. Quick Facts: HPV-Associated Cancer. (n.d.). MN Dept. of Health. https://www.health.state.mn.us/data/mcrs/data/qfhpv.html
  2. European Code Against Cancer – How common is human papillomavirus (HPV) infection? (n.d.). International Agency for Research on Cancer. https://cancer-code-europe.iarc.fr/index.php/en/ecac-12-ways/vaccination-recommendation/human-papillomavirus-hpv/119-human-papillomavirus-hpv-infection
  3. The impact of HPV. (2020, October 6). European Cancer Organisation. https://www.europeancancer.org/content/the-impact-of-hpv.html
  4. Wierzbicka, M., San Giorgi, M. R. M., & Dikkers, F. G. (2023). Transmission and clearance of human papillomavirus infection in the oral cavity and its role in oropharyngeal carcinoma – A review. Reviews in medical virology, 33 (1), e2337. https://doi.org/10.1002/rmv.2337
  5. What is HPV? (n.d.). Cancer Council. https://www.cancer.org.au/what-is-hpv
  6. Vaginal cancer. (2023, November 24). NHS. https://www.nhs.uk/conditions/vaginal-cancer/
  7. HPV test. (n.d.). MedlinePlus Medical Encyclopedia. https://medlineplus.gov/ency/article/007534.htm
  8. HPV and Cancer. (2025, May 9). National Cancer Institute. https://www.cancer.gov/about-cancer/causes-prevention/risk/infectious-agents/hpv-and-cancer
  9. Impact of the HPV vaccine. (2024, July 9). Centers for Disease Control and Prevention (CDC). https://www.cdc.gov/hpv/vaccination-impact/index.html
  10. Winer, R. L., Hughes, J. P., Feng, Q., O’Reilly, S., Kiviat, N. B., Holmes, K. K., & Koutsky, L. A. (2006). Condom use and the risk of genital human papillomavirus infection in young women. New England Journal of Medicine, 354 (25), 2645–2654. https://doi.org/10.1056/nejmoa053284