Ung thư tử cung là căn bệnh phổ biến thứ 4 ở phụ nữ tại Hoa Kỳ. Thống kê cho thấy, tỷ lệ ca mắc mới là 28,3 trên 100.000 phụ nữ và tỷ lệ tử vong là 5,3 trên 100.000 nữ giới mỗi năm trên toàn cầu. Đồng thời, có khoảng 3,1% phụ nữ sẽ được chẩn đoán mắc ung thư tử cung vào một thời điểm nào đó trong đời.
Bài viết được tư vấn bởi BS Nguyễn Như Điền – Quản lý Y khoa vùng 5 – miền Bắc, Hệ thống Trung tâm tiêm chủng VNVC

Ung thư tử cung là bệnh ác tính xuất phát từ nội mạc hoặc cơ tử cung, thường biểu hiện bằng ra huyết âm đạo bất thường. Bệnh được chẩn đoán qua siêu âm và sinh thiết nội mạc, điều trị chủ yếu bằng phẫu thuật kết hợp xạ trị hoặc hóa trị tùy giai đoạn.
Tất cả phụ nữ đều có nguy cơ mắc ung thư tử cung khi còn tử cung và nguy cơ này tăng dần theo tuổi tác. Hầu hết trường hợp bệnh được phát hiện ở những phụ nữ đang hoặc đã mãn kinh (giai đoạn chu kỳ kinh nguyệt đã chấm dứt).
Trong nhiều trường hợp, bệnh được phát hiện ở giai đoạn muộn, sau khi đã di căn. Nguyên nhân chủ yếu là do không có biện pháp tầm soát thường quy để phát hiện sớm bệnh. Khi các triệu chứng xuất hiện, bệnh có thể đã trở nặng. Ung thư tử cung diễn tiến bệnh với 2 loại chính, bao gồm:

Ung thư tử cung là tình trạng tế bào trong tử cung phát triển mất kiểm soát, gây ảnh hưởng đến hệ thống sinh sản của phụ nữ.
Theo nghiên cứu, ung thư tử cung hình thành khi DNA trong các tế bào tử cung bị đột biến, làm mất chức năng kiểm soát sự phân chia và tăng trưởng của tế bào. Mặc dù nguyên nhân chính xác dẫn đến ung thư tử cung có thể chưa được xác định rõ ràng, nhưng một số yếu tố nguy cơ có liên quan chặt chẽ đến căn bệnh này cần chú ý, bao gồm:
Dấu hiệu nhận biết sớm ung thư tử cung chủ yếu liên quan đến chảy máu âm đạo bất thường, bao gồm ra máu giữa chu kỳ, kinh kéo dài bất thường hoặc chảy máu sau mãn kinh. Người bệnh cũng có thể gặp khí hư bất thường, đau vùng chậu kéo dài, hoặc sụt cân không rõ nguyên nhân. Những biểu hiện này xuất hiện sớm hơn so với các triệu chứng ở giai đoạn muộn và là tín hiệu quan trọng để phát hiện bệnh kịp thời. Cụ thể như sau:
Tử cung thường xuất hiện dấu hiệu cảnh báo sớm nhất qua tình trạng chảy máu âm đạo bất thường, bởi khoảng 9/10 ca được phát hiện nhờ triệu chứng này. Biểu hiện có thể gồm kinh kéo dài, ra máu nhiều hơn bình thường, chảy máu giữa các kỳ hoặc xuất huyết sau mãn kinh. Do đặc điểm dễ nhận biết, dấu hiệu này giữ vai trò then chốt trong việc phát hiện sớm bệnh lý trên.
Bên cạnh chảy máu âm đạo bất thường, người bệnh cũng có thể xuất hiện các dấu hiệu cảnh báo sớm như đau vùng chậu, khí hư bất thường (có thể có mùi hôi, giống mủ hoặc lẫn máu), cân nặng giảm đột ngột.
Trong những giai đoạn sau, bệnh có thể tiến triển thành các triệu chứng dữ dội hơn, bao gồm: Đau hoặc cảm giác áp lực lên vùng chậu, bụng dưới, lưng hoặc chân; đau khi giao ho7p5l đau khi đi tiểu, tiểu khó hoặc có máu trong nước tiểu; đau khi đi đại tiện, khó đi đại tiện hoặc có máu trong phân; chảy máu từ bàng quang hoặc trực tràng; tích tụ dịch ở bụng (gọi là cổ trướng) hoặc ở chân (gọi là phù bạch huyết); sụt cân nhanh; chán ăn; khó thở…
Theo các chuyên gia y tế, hầu hết mọi người thường không tử vong vì ung thư tử cung nếu được phát hiện sớm ở giai đoạn 1 và 2, với tỷ lệ chữa khỏi lên đến 90%. Do đó, việc nhận biết sớm đóng vai trò quan trọng đối với tiên lượng của người bệnh. Một số phương pháp chẩn đoán ung thư tử cung được sử dụng bao gồm:
Để chẩn đoán ung thư tử cung, giai đoạn đầu bác sĩ sẽ tiến hành khám lâm sàng và thăm hỏi tiền sử bệnh bao gồm khai thác về chu kỳ kinh nguyệt, các vấn đề sau mãn kinh, tình trạng tiết dịch và chảy máu âm đạo. Để kiểm tra xem có khối u và thay đổi nào ở niêm mạc, bác sĩ sẽ khám vùng chậu bằng cách đặt 2 ngón tay vào âm đạo và ấn vào bụng người bệnh, hoặc sử dụng một dụng cụ (mỏ vịt) tách các thành của âm đạo và xem xét bên trong.
Bên cạnh khám lâm sàng, đối với những trường hợp bất thường yêu cầu chẩn đoán chi tiết hơn để xác định chính xác bệnh , bác sĩ sẽ tiến hành các phương pháp cận lâm sàng và hình học, bao gồm:

Bác sĩ có thể chẩn đoán ung thư tử cung qua các biện pháp lâm sàng và cận lâm sàng.
Tử cung đã được FIGO xem xét lại hệ thống phân giai đoạn khi nhiều dữ liệu mới về mô học và phân loại phân tử liên tục được ghi nhận sau bản cập nhật năm 2009. Trước nhu cầu làm rõ các vấn đề liên quan đến tiên lượng, đặc điểm khối u và chiến lược điều trị, tổ chức này đã thành lập tiểu ban chuyên trách vào tháng 10/2021 nhằm rà soát bằng chứng mới và hoàn thiện cách tiếp cận lâm sàng cho bệnh lý trên.
Theo FIGO ung thư tử cung được phân loại thành 4 giai đoạn như sau:
| Giai đoạn | Mô tả | |
| Giai đoạn I: Giới hạn ở thân tử cung và buồng trứng | ||
| IA | Giới hạn ở nội mạc tử cung hoặc loại mô học không xâm lấn hay xâm lấn ít hơn một nửa cơ tử cung mà không có sự xâm lấn vào không gian mạch bạch huyết khu trú >>> Bệnh có tiên lượng tốt | |
| IA1 | Loại mô học không xâm lấn giới hạn ở polyp nội mạc tử cung hoặc giới hạn ở nội mạc tử cung | |
| IA2 | Loại mô học không xâm lấn liên quan đến ít hơn một nửa cơ tử cung, không có hoặc có không gian mạch bạch huyết khu trú | |
| IA3 | Ung thư nội mạc tử cung dạng lạc nội mạc tử cung (EEC) mức độ thấp giới hạn ở tử cung và buồng trứng | |
| IB | Các loại mô học không xâm lấn với sự xâm lấn một nửa hoặc nhiều hơn cơ tử cung và không có hoặc có LVSI khu trú | |
| IC | Các loại mô học ác tính giới hạn ở polyp hoặc giới hạn ở nội mạc tử cung | |
| Giai đoạn II: Xâm lấn mô đệm cổ tử cung không lan ra ngoài tử cung hoặc có xâm lấn vào không gian mạch bạch huyết khu trú đáng kể hay các loại mô học có xâm lấn cơ tử cung | ||
| IIA | Xâm lấn mô đệm cổ tử cung của các loại mô học không xâm lấn | |
| IIB | Xâm lấn vào không gian mạch bạch huyết khu trú của các loại mô học không xâm lấn | |
| IIC | Các loại mô học ác tính với bất kỳ sự liên quan nào đến cơ tử cung | |
| Giai đoạn III: Sự lan rộng cục bộ và/hoặc khu vực của khối u của bất kỳ phân nhóm mô học nào | ||
| IIIA | Xâm lấn vào thanh mạc, phần phụ của tử cung hoặc cả hai do xâm lấn trực tiếp hoặc di căn | |
| IIIA1 | Lan đến buồng trứng hoặc ống dẫn trứng (trừ khi đáp ứng tiêu chuẩn giai đoạn IA3) | |
| IIIA2 | Liên quan đến lớp thanh mạc tử cung hoặc lan rộng qua lớp thanh mạc tử cung | |
| IIIB | Di căn hoặc lan trực tiếp đến âm đạo và/hoặc đến vùng quanh tử cung hoặc phúc mạc vùng chậu | |
| IIIB1 | Di căn hoặc lan trực tiếp đến âm đạo và/hoặc vùng cận tử cung | |
| IIIB2 | Di căn đến phúc mạc vùng chậu | |
| IIIC | Di căn đến hạch bạch huyết vùng chậu hoặc quanh động mạch chủ hoặc cả hai. | |
| IIIC1 | Di căn đến các hạch bạch huyết vùng chậu: – IIICi: Di căn nhỏ – IIICii: Di căn lớn |
|
| IIIC2 | Di căn đến các hạch bạch huyết quanh động mạch chủ lên đến mạch thận, có hoặc không có di căn đến các hạch bạch huyết vùng chậu: – IIC2i: Di căn nhỏ – IIIC2ii: Di căn lớn |
|
| Giai đoạn IV: Lan đến niêm mạc bàng quang và/hoặc ruột và/hoặc di căn xa | ||
| IVA | Xâm lấn niêm mạc bàng quang và/hoặc niêm mạc ruột/ruột | |
| IVB | Ung thư đã di căn đến các cơ quan ở xa, chẳng hạn như phổi, gan, xương, hoặc các hạch bạch huyết ở xa. | |
Theo các chuyên gia, việc điều trị ung thư tử cung sẽ dựa trên các yếu tố như giai đoạn ung thư, tình trạng sức khỏe và mong muốn sinh con trong tương lai để quyết định phương pháp phù hợp nhất. Các phương pháp điều trị thông thường bao gồm phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, liệu pháp hormone, hoặc kết hợp các phương pháp này, cụ thể như sau:
Ung thư tử cung thường được điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ tử cung và cổ tử cung (cắt bỏ toàn bộ tử cung), cùng với cả ống dẫn trứng và buồng trứng (cắt bỏ cả hai bên vòi trứng và buồng trứng).
Trong trường hợp buồng trứng của người bệnh không có bất kỳ yếu tố nguy cơ nào và người bệnh đang trong giai đoạn sớm, mức độ ác tính thấp thì bác sĩ sẽ cân nhắc giữ lại buồng trứng. Nếu ung thư đã lan ra ngoài cổ tử cung, bác sĩ phẫu thuật cũng có thể cắt bỏ một phần nhỏ âm đạo trên và các dây chằng nâng đỡ cổ tử cung.
Phẫu thuật cắt bỏ tử cung có thể được thực hiện theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào một số yếu tố như tuổi tác người bệnh, kích thước tử cung và khối u cũng như chuyên môn của bác sĩ. Các phương pháp phẫu thuật bao gồm: phẫu thuật nội soi (cắt tử cung bằng phương pháp nội soi), phẫu thuật tử cung bằng robot hỗ trợ, phẫu thuật mở (cắt tử cung qua đường bụng hoặc phẫu thuật mỡ bụng).
Tử cung là khu vực thường áp dụng xạ trị trong điều trị ung thư nội mạc, đặc biệt khi mô ác tính xâm lấn sâu hoặc lan đến hạch bạch huyết. Liệu pháp này giúp giảm nguy cơ tái phát dựa trên kết quả phẫu thuật và thường được xem như lựa chọn thay thế khi người bệnh không thể can thiệp bằng dao mổ do tình trạng sức khỏe không cho phép. Nhờ cơ chế tiêu diệt tế bào bất thường tại chỗ, phương pháp này đóng vai trò quan trọng ở nhiều giai đoạn bệnh.
Hóa trị được chỉ định cho tình trạng này khi tổn thương tiến triển hoặc tái phát, nhất là giai đoạn muộn có nguy cơ di căn xa. Các phác đồ sử dụng thuốc chống ung thư đang liên tục được cải tiến nhằm xác định chính xác những nhóm bệnh nhân hưởng lợi nhiều nhất. Khi kết hợp với các phương pháp khác, biện pháp này góp phần kiểm soát sự lan rộng của tế bào ác tính và nâng cao hiệu quả điều trị tổng thể.
Liệu pháp hormone không được coi là phương pháp điều trị tiêu chuẩn, nhưng có thể được bác sĩ khuyến nghị khi bệnh nhân mong muốn sinh con trong tương lai mà lại bị ung thư giới hạn ở tử cung. Đây là liệu pháp thực hiện sinh thiết định kỳ bên trong tử cung để đảm bảo ung thư đáp ứng với điều trị. Đôi khi, liệu pháp hormone được sử dụng cho những bệnh nhân bị bệnh tái phát.

Tùy thuộc vào diễn tiến và mức độ nghiêm trọng mà bác sĩ sẽ chỉ định phương pháp điều trị cho mỗi bệnh nhân.
Theo dõi sau điều trị là một phần quan trọng của việc chăm sóc ung thư, có tác động lớn đến kết quả điều trị, khả năng hồi phục và nguy cơ tái phát trong tương lai. Trong giai đoạn này, người bệnh cần tuân thủ nghiêm ngặt lịch trình tái khám được bác sĩ chỉ định. Trong trường hợp xuất hiện các triệu chứng bất thường, không nên đợi đến lần hẹn khám tiếp theo, người bệnh cần đến ngay cơ sở y tế để được can thiệp kịp thời. Một số dấu hiệu cần lưu ý bao gồm:
Cần lưu ý, nguy cơ ung thư tử cung quay lại hoặc tái phát cao nhất trong vài năm đầu sau khi điều trị. Đặc biệt là nguy cơ xảy ra các phát sinh sau phẫu thuật như nhiễm trùng, rủi ro máu đông, vấn đề về ruột hoặc bàng quang, sưng hoặc phù nề. Do đó, người bệnh cần theo dõi chặt chẽ trong thời gian này.
Ung thư tử cung là bệnh lý nguy hiểm, ảnh hưởng nặng nề đến hệ thống sinh sản, thậm chí đe dọa tính mạng người bệnh. Các biến chứng của căn bệnh này bao gồm thiếu máu (do chảy máu âm đạo quá nhiều), thủng tử cung (xảy ra trong quá trình nong và nạo âm đạo) và các vấn đề phát sinh sau phẫu thuật, xạ trị và hóa trị.
Tiên lượng sống của phụ nữ mắc ung thư tử cung phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm tuổi tác và sức khỏe tổng thể, cũng như thời điểm chẩn đoán và giai đoạn ung thư. Nhìn chung, phụ nữ trẻ tuổi và phụ nữ mắc ung thư được phát hiện ở giai đoạn đầu có kết quả điều trị tốt nhất.
Theo các chuyên gia y tế, ung thư tử cung không gây tử vong nếu được chẩn đoán và điều trị ở giai đoạn đầu, với tiên lượng được ghi nhận như sau:
Nhìn chung, tỷ lệ sống sót sau 5 năm có thể thay đổi tùy thuộc vào mức độ ung thư đã lan rộng.

Tiên lượng sống của ung thư tử cung nhìn chung tương đối tốt nếu phát hiện sớm, đặc biệt với thể ung thư nội mạc tử cung – loại thường gặp nhất.
Theo các chuyên gia y tế, phòng ngừa tử cung tập trung vào việc duy trì cân bằng lành mạnh giữa 2 hormone Estrogen và Progestin. Nguyên nhân là do có quá nhiều estrogen trong cơ thể có thể làm tăng nguy cơ phát triển quá mức tế bào, góp phần hình thành khối u ác tính. Một số cách có thể cân bằng hormone có thể kể đến như sau:
Như đã đề cập. có một số yếu tố đã được chứng minh ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tử cung bao gồm thừa cân, chế độ ăn uống nhiều mỡ động vật có thể góp phần làm tăng nguy cơ ung thư tử cung, cũng như sự mất cân bằng estrogen/progestin. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, nữ giới có thể giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh bằng cách duy trì cân nặng khỏe mạnh, ăn uống khoa học và vận động thể chất thường xuyên.
Bên cạnh đó, mỗi người cần tránh hút hoặc khói thuốc lá vì nicotine làm suy yếu miễn dịch và tăng nguy cơ ung thư. Không nên lạm dụng thuốc tránh thai lâu dài và không được chủ quan với bất kỳ dấu hiệu bất thường nào của cơ thể.
Kiểm soát nội tiết tố và bệnh nền đóng vai trò quan trọng trong phòng ngừa ung thư cổ tử cung, đặc biệt ở phụ nữ trung niên, tiền mãn kinh hoặc có tiền sử bệnh lý mãn tính. Do đó, phụ nữ cần lưu ý thực hiện khám phụ khoa định kỳ để theo dõi nội tiết tố, hạn chế sử dụng thuốc nội tiết (thuốc tránh thai, hormone thay thế) bừa bãi khi chưa có chỉ định từ bác sĩ. Đồng thời duy trì chế độ sống lành mạnh, ngủ đủ giấc, hạn chế stress kéo dài.
Đối với những người có bệnh nền, cần lưu ý quản lý tình trạng bệnh ổn định, để hạn chế nguy cơ miễn dịch suy giảm, tăng khả năng mắc bệnh.
Mặc dù vắc xin HPV không có khả năng phòng ung thư tử cung, nhưng có thể phòng hiệu quả các tuýp HPV nguy cơ cao gây ra các bệnh đường sinh dục và ung thư cổ tử cung, âm đạo, âm hộ nguy hiểm ở nữ giới. Hiện tại, vắc xin phòng HPV bao gồm Gardasil (phòng 4 chủng HPV) chỉ định tiêm cho nữ giới từ 9 – 26 tuổi và Gardasil 9 (phòng 9 chủng HPV) chỉ định tiêm cho cả nam và nữ từ 9 – 45 tuổi, với hiệu quả phòng bệnh cao, chứng minh an toàn và duy trì tính sinh miễn dịch lâu dài.

Việc tầm soát và xét nghiệm Pap smear cũng như HPV test theo định kỳ có thể giúp phát hiện sớm tổn thương tiền ung thư cho nữ giới, hỗ trợ nâng cao tiên lượng và phục vụ kết quả điều trị tích cực. Các chuyên gia khuyến cáo, nữ giới từ 21 tuổi hoặc sau khi phát sinh quan hệ tình dục, nên thực hiện theo dõi sức khỏe sinh sản định kỳ để phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường, giảm nguy cơ biến chứng.
Một số thắc mắc xoay quanh bệnh ung thư tử cung, được nhiều nữ giới quan tâm như sau:
Ung thư tử cung có thể chữa khỏi nếu được phát hiện và điều trị sớm. Hầu hết các bệnh nhân có tiên lượng tốt đều được can thiệp y tế ở giai đoạn đầu, dẫn đến cơ hội điều trị thành công và hồi phục cao. Theo FIGO, bệnh nhân được chẩn đoán ung thư tử cung ở giai đoạn I có tỷ lệ sống sót sau 5 năm lên đến 95%.
Nếu ung thư được chẩn đoán khi nó đã lan ra ngoài tử cung đến các bộ phận khác của cơ thể, khả năng chữa khỏi sẽ thấp hơn. Trường hợp bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn tiến triển, việc điều trị thường nhằm mục đích làm chậm sự tiến triển của ung thư, tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Một số ít trường hợp ung thư tử cung là do những thay đổi gen được di truyền trong gia đình. Tỷ lệ mắc bệnh theo di truyền chưa đến 5/100 phụ nữ (chiếm khoảng 5%). Theo các chuyên gia, nữ giới có nhiều nguy cơ mắc ung thư tử cung nếu có người thân mắc bệnh, bao gồm họ hàng gần như cha mẹ, con cái, anh chị em ruột…
Ung thư tử cung là bệnh lý cần được tiếp cận thận trọng vì các dấu hiệu ban đầu thường dễ nhầm lẫn với rối loạn sinh lý thông thường. Việc hiểu rõ triệu chứng, yếu tố nguy cơ và đặc điểm tiến triển giúp người đọc chủ động hơn trong theo dõi sức khỏe sinh sản. Tuy nhiên, các thông tin này chỉ mang tính tham khảo và không thay thế đánh giá lâm sàng, do đó người bệnh không nên tự ý sử dụng thuốc hoặc áp dụng biện pháp điều trị khi chưa được bác sĩ thăm khám trực tiếp.