HPV type 39 có nguy cơ gây bệnh gì?

07/11/2026 Tác giả: Trung tâm Dinh dưỡng Nutrihome

HPV type 39 có khả năng gây ung thư cổ tử cung nếu nhiễm trùng kéo dài, nhưng không phải ai nhiễm virus cũng tiến triển thành ung thư. Đáng chú ý, người nhiễm thường không có triệu chứng nên khó nhận biết nếu không xét nghiệm. Vậy chủng HPV này nguy hiểm đến mức nào, có tự khỏi không và cần làm gì khi xét nghiệm dương tính? Việc hiểu rõ nguy cơ, phương pháp phát hiện và hướng theo dõi sẽ giúp người bệnh chủ động bảo vệ sức khỏe.

Bài viết về HPV type 39 được tư vấn y khoa bởi BS Nguyễn Công Luận – Quản lý Y khoa, Hệ thống Trung tâm Tiêm chủng VNVC, nhằm cung cấp thông tin về đặc điểm virus, nguy cơ gây bệnh, đường lây truyền, phương pháp phát hiện và các biện pháp phòng ngừa. Nội dung giúp người đọc hiểu rõ hơn về mức độ nguy hiểm của chủng HPV này, đồng thời nâng cao nhận thức trong việc chủ động bảo vệ sức khỏe.

Hình minh họa virus HPV kèm tiêu đề HPV type 39 có nguy cơ gây bệnh gì.

HPV type 39 là gì?

HPV type 39 là một trong những chủng virus gây u nhú ở người (Human Papillomavirus – HPV) nguy cơ cao (high-risk HPV), thuộc nhóm virus có khả năng làm tăng nguy cơ ung thư nếu tồn tại kéo dài trong cơ thể. HPV 39 có liên quan đến ung thư cổ tử cung, đồng thời có thể xuất hiện trong các trường hợp ung thư hậu môn, âm hộ, âm đạo, dương vật và vùng hầu họng.

Theo một nghiên cứu được tiến hành tại Tây Ban Nha, HPV type 39 là yếu tố chính dẫn đến bệnh ung thư hậu môn ở nhóm đối tượng nam quan hệ tình dục đồng giới và nhiễm HIV. Cũng theo nghiên cứu, HPV type 39 khiến nhóm đối tượng này có nguy cơ mắc tiền ung thư gọi là tân sinh mô hậu môn cao hơn.

Mặt khác, tỷ lệ nhiễm HPV type 39 tại Sari, Iran cũng ở mức cao (theo kết quả phân tích phân bố kiểu gen của HPV tại tỉnh Mazandaran, miền bắc Iran). Theo đó, 67,7% trường hợp dương tính HPV. Các kiểu gen được tìm thấy nhiều nhất là HPV 11 (chiếm 23%), HPV 6 (21%), HPV 56 (18%) và HPV 39 là 16%.

Hiện có hơn 200 chủng HPV được các nhà khoa học phân lập, trong đó hơn 40 chủng có khả năng gây bệnh ở đường sinh dục và hậu môn, gồm cả ung thư. Ước tính, có 11% đến 12% dân số thế giới (khoảng 700 – 800 triệu người) đang nhiễm HPV.

Hình minh họa các hạt virus HPV trên bề mặt niêm mạc.

HPV type 39 là một trong những chủng virus gây u nhú ở người nguy cơ cao, thuộc nhóm virus có khả năng làm tăng nguy cơ ung thư nếu tồn tại kéo dài trong cơ thể.

HPV type 39 gây bệnh gì?

Được phân loại là type HPV nguy cơ cao, HPV type 39 có khả năng gây ung thư. Khi nhiễm virus, các tế bào vùng sinh dục hoặc hậu môn bị biến đổi, từ đó tăng nguy cơ tiến triển thành bệnh nghiêm trọng, như ung thư âm hộ, ung thư âm đạo, ung thư cổ tử cung ở nữ giới hay ung thư dương vật ở nam.

1. Ung thư cổ tử cung

Người nhiễm HPV type 39 thường không có triệu chứng rõ ràng, khiến virus có thể tồn tại nhiều năm mà không được phát hiện. Nếu nhiễm trùng kéo dài, chủng HPV nguy cơ cao này có thể gây biến đổi tế bào cổ tử cung, hình thành tổn thương tiền ung thư mức độ thấp hoặc cao, thậm chí tiến triển thành ung thư cổ tử cung. Theo các nghiên cứu, HPV được phát hiện trong gần như tất cả trường hợp ung thư cổ tử cung, trong đó các chủng nguy cơ cao đóng vai trò chủ yếu.

Khi mắc ung thư cổ tử cung đa phần bệnh nhân không phát hiện bệnh ở giai đoạn đầu. Chỉ khi xuất hiện các dấu hiệu bất thường vùng âm đạo giai đoạn muộn như chảy máu âm đạo bất thường, đau khi quan hệ, dịch tiết có mùi hôi… thì mới ý thức được bản thân đã nhiễm bệnh.

Song việc điều trị lúc này đã trở nên vô cùng khó khăn, tốn kém và có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe sinh sản, chất lượng sống của bệnh nhân.

2. Ung thư âm hộ, âm đạo

Ung thư âm hộ, âm đạo là một căn bệnh đáng lo ngại khi chiếm khoảng 3 – 5% các trường hợp ung thư sinh dục nữ tại Việt Nam. Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, năm 2025 Hoa Kỳ ghi nhận khoảng 7.480 ca ung thư âm hộ được chẩn đoán, 1.770 ca tử vong. Ung thư âm hộ, âm đạo xảy ra khi các tế bào âm hộ phát triển bất thường. Ở giai đoạn muộn, các tế bào ung thư di căn sang các cơ quan lân cận như bàng quang. Tuy không phổ biến bằng ung thư cổ tử cung, song ung thư âm hộ, âm đạo cũng hoàn toàn không thể xem thường.

Người bệnh cầm dải ruy băng màu hồng biểu tượng nhận thức về ung thư.

Ung thư âm hộ, âm đạo là một căn bệnh đáng lo ngại khi chiếm khoảng 3 – 5% các trường hợp ung thư sinh dục nữ tại Việt Nam.

3. Ung thư dương vật

Bên cạnh các bệnh ung thư ở nữ giới do HPV, nam giới nhiễm virus HPV nói chung và HPV type 39 nói riêng cũng có thể tiến triển thành ung thư. Điển hình như ung thư dương vật. Tuy là bệnh hiếm gặp, tỷ lệ mắc tại châu Âu và Bắc Mỹ chỉ khoảng 1/100.000 nam giới mỗi năm. Song tại một số quốc gia khác ở châu Á, châu Phi và Nam Mỹ, ung thư dương vật lại khá phổ biến và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người bệnh Tại Việt Nam, bệnh thường xuất hiện ở nam giới 50 – 70 tuổi.

Ngoài ra, HPV type 39 còn có khả năng dẫn đến ung thư hậu môn và ung thư vòm họng. Năm 2024, Hoa Kỳ có khoảng 10.540 ca ung thư hậu môn, với 3.360 trường hợp xuất hiện ở nam giới và 7.180 trường hợp là nữ giới, 2.190 ca tử vong. Từ những năm 2000, tỷ lệ ung thư vòm họng tại các quốc gia tăng lên 1% mỗi năm, chủ yếu do sự gia tăng các bệnh ung thư liên quan HPV.

Dấu hiệu nhiễm HPV type 39 là gì?

Nhiễm các type HPV nguy cơ cao trong giai đoạn đầu thường không biểu hiện triệu chứng rõ ràng. Chỉ khi bước vào giai đoạn muộn, virus làm biến đổi các tế bào ở vùng sinh dục, hầu họng – khoang miệng dẫn đến tiền ung thư, ung thư mới biểu hiện các triệu chứng rõ ràng. Như ra dịch âm đạo, chảy máu bất thường, đau rát ở nữ giới; tổn thương da hoặc niêm mạc vùng sinh dục, tiết dịch, sưng đau dương vật… ở nam giới.

Chẩn đoán nhiễm HPV tuýp 39 như thế nào?

Để chẩn đoán nhiễm HPV tuýp 39, bạn cần đến bệnh viện để được bác sĩ thăm khám, chỉ định thực hiện các xét nghiệm sau:

  • Xét nghiệm Pap Smear: Xét nghiệm tế bào học nhằm thu thập và phân tích các tế bào cổ tử cung để phát hiện những biến đổi bất thường về hình thái, cấu trúc liên quan đến ung thư;
  • Xét nghiệm Thinprep: Phương pháp phết tế bào cổ tử cung được cải tiến từ Pap Smear. Khi thực hiện, bác sĩ dùng chổi tế bào để thu thập mẫu tế bào ở cổ tử cung. Tế bào được rửa trong dung dịch bảo quản, đưa vào lọ Thinprep để xử lý tự động và hiển thị kết quả;
  • Xét nghiệm HPV DNA: Kỹ thuật tách chiết DNA và công nghệ hiện đại nhằm xác định sự xuất hiện của HPV trong cơ thể. Phương pháp giúp đánh giá nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung trong tương lai thường được thực hiện cùng Pap Smear hoặc Thinprep.

HPV 39 có tự khỏi không? Điều trị HPV type 39 như thế nào?

Thông thường, ở người khỏe mạnh, HPV có thể được cơ thể tự đào thải trong vòng 1 – 2 năm mà không gây ra các vấn đề sức khỏe. Tuy nhiên, trong một số trường hợp như người bị ức chế miễn dịch do HIV/AIDS, sử dụng thuốc ghép tạng, người có hệ miễn dịch yếu… HPV nguy cơ cao có thể xâm nhập và biến đổi các tế bào trong cơ thể dẫn đến ung thư.

Vì vậy, việc quản lý nhiễm HPV thường được thực hiện theo hướng theo dõi – can thiệp khi xuất hiện tổn thương – nâng cao miễn dịch. Người nhiễm HPV cần khám và tầm soát định kỳ để phát hiện sớm những biến đổi bất thường ở cổ tử cung hoặc các cơ quan liên quan. Nếu phát hiện các tổn thương tiền ung thư hoặc ung thư, bác sĩ sẽ chỉ định phương pháp điều trị phù hợp để loại bỏ vùng tổn thương.

Cần lưu ý rằng hiện nay việc điều trị chủ yếu tập trung vào xử lý các tổn thương do HPV gây ra, chẳng hạn như tổn thương cổ tử cung, chứ không phải điều trị trực tiếp virus HPV như HPV type 39. Bên cạnh đó, duy trì lối sống lành mạnh, dinh dưỡng đầy đủ và chăm sóc sức khỏe tốt cũng góp phần hỗ trợ hệ miễn dịch hoạt động hiệu quả, giúp cơ thể kiểm soát virus tốt hơn.

Vắc xin và biện pháp phòng ngừa lây nhiễm hpv type 39

Để phòng nguy cơ lây nhiễm HPV type 39, người dân cần có ý thức quan hệ tình dục an toàn, sử dụng bao cao su khi quan hệ đồng thời hạn chế tối đa số lượng bạn tình. Ngoài ra, ở phụ nữ cần tầm soát ung thư cổ tử cung định kỳ để sớm phát hiện nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung, tiền ung thư. Không dùng chung các đồ dùng cá nhân như khăn tắm, quần lót để tránh lây nhiễm.

Hiện các loại vắc xin phòng HPV tại Việt Nam như Gardasil, Gardasil 9 chưa phòng được HPV type 39. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả bảo vệ trước các chủng HPV đã có trong vắc xin, người dân vẫn cần chủ động tiêm phòng các loại vắc xin có sẵn trong độ tuổi được chỉ định. Hiện vắc xin HPV được chỉ định cho người từ 9 – 45 tuổi, mọi giới tính, bất kể đã quan hệ tình dục hay chưa.

Hệ thống Trung tâm Tiêm chủng VNVC hiện đang triển khai tiêm ngừa đầy đủ các loại vắc xin phòng HPV bao gồm Gardasil (Mỹ) và Gardasil 9 (Mỹ).

Nhân viên y tế thực hiện tiêm vắc xin cho khách hàng tại VNVC.

Hiện các loại vắc xin phòng HPV tại Việt Nam như Gardasil, Gardasil 9 chưa phòng được HPV type 39.

Trong đó, Gardasil là vắc xin tứ giá với khả năng bảo vệ trước 4 type HPV như 6, 11, 16, 18 phòng u nhú sinh dục, ung thư cổ tử cung cho trẻ em gái và phụ nữ từ 9 – 26 tuổi.

Vắc xin Gardasil 9 phòng ngừa được 9 type HPV nguy hiểm và phổ biến nhất hiện nay bao gồm 6, 11, 16, 18, 31, 33, 45, 52 và 58, phòng ung thư cổ tử cung, âm hộ, âm đạo, ung thư dương vật, hậu môn, các tổn thương tiền ung thư, loạn sản và mụn cóc sinh dục do HPV, với hiệu quả bảo vệ lên đến hơn 90%. Vắc xin được chỉ định cho cả nam và nữ từ 9 – 45 tuổi.

Dù vắc xin HPV hiện nay chưa bảo vệ trực tiếp trước HPV type 39, tiêm chủng vẫn giúp phòng ngừa nhiều chủng HPV nguy cơ cao khác có liên quan đến ung thư và các bệnh lý đường sinh dục. Hệ thống Trung tâm Tiêm chủng VNVC cung cấp dịch vụ tiêm vắc xin HPV, tư vấn độ tuổi, lịch tiêm và các lưu ý trước tiêm theo hướng dẫn chuyên môn. Khách hàng có thể liên hệ VNVC để được tư vấn, kiểm tra tình trạng vắc xin và đặt lịch tiêm phù hợp.

HPV type 39 thuộc nhóm virus nguy cơ cao, có khả năng gây tổn thương tiền ung thư và ung thư cổ tử cung nếu nhiễm trùng kéo dài. Tuy nhiên, phần lớn trường hợp nhiễm HPV có thể được hệ miễn dịch kiểm soát mà không gây biến chứng nghiêm trọng. Việc xét nghiệm, đánh giá nguy cơ và theo dõi định kỳ giúp phát hiện sớm những bất thường tại cổ tử cung để can thiệp kịp thời khi cần thiết. Người có kết quả dương tính cần tuân thủ hướng dẫn của bác sĩ, tránh tự ý sử dụng các phương pháp điều trị chưa được chứng minh hiệu quả.

Đánh giá bài viết
09:34 07/11/2026
›