Những điều cần biết về dậy thì muộn ở nam và nữ

Dậy thì muộn (hay dậy thì trễ) là tình trạng rối loạn phát triển ở trẻ tuổi dậy thì do nhiều yếu tố gây ra. Mặc dù không quá nghiêm trọng, nhưng tình trạng này nếu không được can thiệp kịp thời sẽ ảnh hưởng lớn đến tâm lý cũng như sự phát triển toàn diện của trẻ.

Dậy thì muộn sẽ khiến trẻ cảm thấy tự ti với bạn đồng trang lứa

Dậy thì muộn sẽ khiến trẻ cảm thấy tự ti với bạn đồng trang lứa

Thế nào là dậy thì muộn ở nam và nữ?

Tuổi dậy thì là giai đoạn đánh dấu sự thay đổi về vóc dáng ở trẻ, từ một đứa trẻ thành người lớn. Thông thường, những thay đổi này bắt đầu khi trẻ từ 8 – 14 đối với bé gái và từ 9 – 15 tuổi đối với bé trai. Tuy nhiên, một số trẻ đã… vượt qua các “cột mốc” trên mà không có bất kỳ dấu hiệu thay đổi nào về mặt thể chất được gọi là dậy thì muộn.

Nguyên nhân gây dậy thì muộn ở trẻ là gì?

Nguyên nhân thường gặp nhất là sự chậm tăng trưởng/phát triển về thể chất (Constitutional growth delay – CGD) ở trẻ dậy thì muộn, được xác định do di truyền. Đây là tình trạng hệ xương chậm phát triển tạm thời khiến chiều cao của trẻ không được như các bạn cùng trang lứa. 

Theo đó, ở các bé trai, khoảng 60% trường hợp dậy thì muộn là do chậm phát triển thể chất. Thật khó để khẳng định chắc chắn, nhưng CGD được cho là có ảnh hưởng đến các bé trai gấp đôi so với các bé gái. Trẻ bị CGD thường không cần điều trị vì sẽ tự đạt đến chiều cao thích hợp khi trưởng thành nhưng không nhanh như các bạn cùng lứa tuổi.

Ngoài di truyền, tình trạng dậy thì trễ ở trẻ còn được xác định do các nguyên nhân bệnh lý sau:

  • Các rối loạn khác nhau: Bệnh đái tháo đường không được kiểm soát tốt, bệnh viêm ruột, bệnh thận, xơ nang và thiếu máu có thể làm chậm hoặc ngăn cản sự phát triển của trẻ. 
  • Sự phát triển thể chất của trẻ bị chậm lại do quá trình xạ trị hoặc hóa trị ung thư. 
  • Dậy thì trễ cũng có thể do các rối loạn tự miễn dịch như: viêm tuyến giáp Hashimoto, bệnh Addison và một số rối loạn ảnh hưởng trực tiếp đến buồng trứng. 
  • Một khối u làm tổn thương tuyến yên hoặc vùng dưới đồi sẽ làm giảm mức gonadotropins hoặc ngừng sản xuất hoàn toàn các hormone liên quan đến dậy thì.
  • Ở trẻ em trai, các rối loạn về tinh hoàn (chẳng hạn chấn thương, xoắn tinh hoàn hoặc mắc quai bị gây nhiễm trùng) có thể làm chậm quá trình dậy thì. 
  • Các bất thường về nhiễm sắc thể như hội chứng Turner ở trẻ em gái và hội chứng Klinefelter ở trẻ em trai hoặc các rối loạn di truyền khác cũng được cho rằng có ảnh hưởng đến việc sản xuất hormone sinh dục. Một trong những rối loạn di truyền này, hội chứng Kallmann được cho chỉ ảnh hưởng đến sản xuất gonadotropin mà không ảnh hưởng đến sản xuất các hormone khác.

 

Nguyên nhân dậy thì muộn ở nam có thể do tình trạng nhiễm trùng khi mắc quai bị gây nên

Nguyên nhân dậy thì muộn ở nam có thể do tình trạng nhiễm trùng khi mắc quai bị gây nên

Các dấu hiệu nhận biết dậy thì muộn ở nam và nữ

Do cấu tạo cơ thể khác nhau và cột mốc dậy thì ở 2 giới cũng không giống nhau nên các dấu hiệu dậy thì muộn cũng có sự khác biệt đáng kể. Đó là:

– Các dấu hiệu nhận biết dậy thì muộn ở nam thường gặp:

  • Dương vật và tinh hoàn không phát triển ở tuổi 14
  • Không có lông mu ở tuổi 15
  • Tăng trưởng bộ phận sinh dục kéo dài hơn 5 năm
  • Chiều cao thấp hơn các bạn đồng trang lứa.

– Các dấu hiệu nhận biết dậy thì muộn ở nữ thường gặp:

  • Không phát triển ngực ở tuổi 12
  • Không bắt đầu hành kinh trong vòng 5 năm kể từ khi ngực bắt đầu phát triển
  • Không có kinh nguyệt ở tuổi 15.

Chẩn đoán dậy thì muộn như thế nào và ở đâu?

Đánh giá ban đầu về dậy thì muộn cần bao gồm tiền sử đầy đủ và khám sức khỏe để đánh giá sự phát triển thể chất, tình trạng dinh dưỡng và tăng trưởng. Ngoài ra, tùy thuộc vào từng đối tượng bác sĩ sẽ chỉ định trẻ bị dậy thì trễ thực hiện thêm các xét nghiệm chẩn đoán sau:

  • Chụp X-quang tuổi xương: Có thể chụp X-quang một hoặc nhiều xương để xem mức độ trưởng thành của xương.
  • Xét nghiệm máu: Trẻ được lấy mẫu máu và làm các xét nghiệm cơ bản để tìm các dấu hiệu của bệnh mãn tính, xét nghiệm mức độ hormone và có thể là xét nghiệm di truyền.
  • Trong một số trường hợp trẻ dậy thì muộn có thể cần chụp cộng hưởng từ hoặc MRI để đảm bảo rằng không có khối u não hoặc bất thường cấu trúc trong tuyến yên.

Thông thường, các bác sĩ đánh giá các bé trai không có dấu hiệu dậy thì vào năm 14 tuổi và các bé gái không có dấu hiệu dậy thì vào năm 13 tuổi hoặc không có kinh nguyệt vào năm 16 tuổi. Nếu những đứa trẻ này khỏe mạnh thì rất có thể chúng bị chậm phát triển thể chất. 

Và sau khoảng 6 tháng, bác sĩ có thể quyết định kiểm tra lại những trường hợp trên để đảm bảo rằng tuổi dậy thì bắt đầu và tiến triển bình thường. Trong trường hợp các bé gái dậy thì muộn nghiêm trọng nên được đánh giá về tình trạng vô kinh nguyên phát.

Dậy thì muộn được coi là một rối loạn phát triển không quá nguy hiểm. Nhưng nếu không được quan tâm đúng cách và điều trị kịp thời nó sẽ gây ra những hệ quả nghiêm trọng liên quan đến tâm sinh lý cũng như khả năng phát triển bình thường của trẻ. Do đó, bố mẹ cần quan sát và đưa trẻ đến các cơ sở, phòng khám uy tín chất lượng để được thăm khám, chẩn đoán và can thiệp dậy thì muộn để mang lại cơ hội phát triển bình thường về thể chất và tâm lý.

Những cách khắc phục dậy thì muộn ở trẻ bố mẹ nên biết?

Các Bác sĩ tại Nutrihome nhận định: “Trong hầu hết các trường hợp dậy thì muộn ở trẻ không cần điều trị”. Nhưng nếu trẻ cảm thấy tự ti do chậm phát triển hoặc không phát triển, bác sĩ có thể cho bổ sung hormone sinh dục để kích thích quá trình dậy thì sớm hơn. Phương pháp thường phổ biến trong việc điều trị dậy thì muộn ở nam

  • Ở các bé trai không có dấu hiệu dậy thì vào năm 14 tuổi có thể được tiêm testosterone mỗi tháng một đợt kéo dài từ 4 đến 6 tháng.
  • Ở bé gái có thể bắt đầu sử dụng estrogen liều thấp bằng thuốc viên hoặc miếng dán ngoài da để kích thích phát triển ngực.

Sau khi điều trị dậy thì muộn kết thúc nếu không đạt kết quả như mong muốn, bác sĩ sẽ thảo luận để đổi sang hormone sinh dục lâu dài. Trong một vài trường hợp, trẻ có thể cần phẫu thuật để loại bỏ các khối u tuyến yên. Những trẻ này sau đó có được cho là có nguy cơ bị suy tuyến yên dẫn đến thiếu hụt một hoặc nhiều hormone tuyến yên.